Giải đáp cuộc sống

Tác động của tín dụng chính sách xã hội đến mục tiêu giảm nghèo tại Việt Nam

Tóm tắt: Đói nghèo vẫn là thách thức lớn đối với sự phát triển của các quốc gia và thế giới. Hơn nữa, đại dịch covid-19 đã gây ra một cuộc khủng hoảng chưa từng có, ảnh hưởng đến tiến bộ mà thế giới đã đạt được trong lĩnh vực này trong vài thập kỷ qua. Vì vậy, xóa đói, giảm nghèo đã và đang là ưu tiên hàng đầu của nhiều chính sách quốc gia. Ở Việt Nam, tín dụng chính sách xã hội là một trong những “trụ cột” của hệ thống chính sách giảm nghèo. Tuy nhiên, vẫn còn một số tồn tại và hạn chế trong quá trình thực hiện chính sách này. Mục đích của bài báo này là đánh giá tác động của tín dụng chính sách xã hội đối với giảm nghèo và đưa ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của công tác này.

Tác động của tín dụng chính sách xã hội đối với giảm nghèo ở Việt Nam

Đang xem: Tín dụng chính sách xã hội là gì

Tóm tắt: Đói nghèo vẫn là một thách thức lớn đối với sự phát triển của các quốc gia và thế giới. Hơn nữa, đại dịch covid-19 đã gây ra một cuộc khủng hoảng chưa từng có, ảnh hưởng đến tiến bộ mà thế giới đã đạt được trong lĩnh vực này trong vài thập kỷ qua. Vì vậy, xóa đói, giảm nghèo đã và đang là ưu tiên hàng đầu của nhiều quốc gia. Ở Việt Nam, tín dụng chính sách xã hội là một trong những “trụ cột” của hệ thống chính sách giảm nghèo. Tuy nhiên, vẫn còn một số tồn tại và hạn chế trong quá trình thực hiện chính sách này. Bài báo này nhằm đánh giá tác động của tín dụng chính sách xã hội đối với giảm nghèo và từ đó đưa ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của công tác này.

1. Đặt câu hỏi

Thế kỷ 21 đã có những thành tựu nổi bật trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực khoa học và công nghệ, nhưng vấn đề đói nghèo vẫn là thách thức lớn đối với sự phát triển của tất cả các quốc gia. Một báo cáo của Văn phòng Liên hợp quốc về các vấn đề kinh tế và xã hội (undesa) (lhq) ước tính rằng khoảng 71 triệu người trên toàn cầu sẽ rơi vào cảnh nghèo cùng cực vào năm 2020. Nghiên cứu từ Đại học King và Đại học Quốc gia Úc ước tính đại dịch covid-19 sẽ đẩy 5 tỷ người, tức khoảng 8% dân số thế giới, vào cảnh nghèo đói. Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ilo), hơn 2 tỷ người trên thế giới hiện đang cần thu nhập hàng ngày để tồn tại, nhưng tỷ lệ thất nghiệp đã tăng lên ở nhiều nơi trên thế giới do tác động của trận bão số 19. -19 làm trầm trọng thêm tình trạng đói nghèo.

Theo tình huống xấu nhất của Oxfam, mất 20% thu nhập sẽ làm tăng số người sống trong tình trạng nghèo cùng cực trên toàn cầu từ 434 triệu lên 922 triệu. Có thể nói, đói nghèo là một trong những trở ngại chính đối với sự phát triển của con người, đối với mọi quốc gia và toàn thế giới. Vì vậy, xóa đói, giảm nghèo luôn là ưu tiên hàng đầu của các chính sách quốc gia.

Tại Việt Nam, tín dụng chính sách xã hội là một trong những “trụ cột” của hệ thống chính sách giảm nghèo của Việt Nam. Dòng vốn tín dụng ngân hàng và dòng vốn đầu tư của khu vực nhà nước và tư nhân đã góp phần quan trọng giúp Việt Nam đạt được Mục tiêu Thiên niên kỷ về xóa đói giảm cùng cực vào năm 2002, trước 13 năm so với mục tiêu đề ra. Điều này đã chuyển Việt Nam từ một nền kinh tế có thu nhập thấp và trung bình thành một quốc gia có thu nhập trung bình vào năm 2010, với mức tăng GDP gấp 2,4 lần từ 116 tỷ USD năm 2010 lên 268,4 tỷ USD vào năm 2020 và GDP bình quân đầu người từ Mỹ. 116 tỷ USD năm 2010 lên 268,4 tỷ USD năm 2020. 1.331 USD năm 2020 lên 2.750 USD năm 2020. Tuy nhiên, vẫn còn một số vướng mắc trong quá trình thực hiện chính sách tín dụng giảm nghèo bền vững ở Việt Nam, vì vậy cần đánh giá tác động của tín dụng chính sách xã hội đối với công tác giảm nghèo để đưa ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của công tác này.

2. Một số khái niệm về nghèo đói và tín dụng chính sách xã hội

Nghèo đói là một khái niệm tương đối phản ánh một nhóm người trong xã hội không có lợi ích tối thiểu theo một tiêu chuẩn nhất định, trong khi những người còn lại có cuộc sống sung túc. So sánh. Nghèo đói là một khái niệm tương đối vì nó phụ thuộc vào mức sống của mỗi quốc gia và từng giai đoạn phát triển. Tuy nhiên, khái niệm nghèo có thể được hiểu cụ thể là bao gồm: (i) nghèo về vật chất được đo lường bằng một thước đo thu nhập hoặc tiêu dùng thích hợp; (ii) thiếu giáo dục và y tế; (iii) dễ bị tổn thương hoặc dễ bị tổn thương, tức là giảm thu nhập hoặc sức khỏe Khả năng nghèo đói; (iv) Thiếu tiếng nói và các quyền cơ bản.

Nghèo đói có thể được đo lường theo nhiều cách khác nhau. Đặc biệt, ở Việt Nam, chính phủ đã ban hành kế hoạch mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững 5 năm một lần dựa trên chuẩn nghèo đã công bố để đo lường những thay đổi về tỷ lệ nghèo theo thời gian. Từ năm 2015, Việt Nam vẫn áp dụng phương pháp đo nghèo một chiều dựa trên chuẩn nghèo thu nhập. Ngoài ra, Ngân hàng Thế giới (wb) và Tổng cục Thống kê (tck) cũng ước tính tỷ lệ nghèo đói dựa trên chuẩn nghèo chi tiêu trung bình. Để chuyển đổi công tác giảm nghèo theo hướng bền vững trong điều kiện đổi mới mô hình tăng trưởng, Quốc hội quyết định chỉ định Chính phủ xây dựng chuẩn nghèo mới theo hướng tiếp cận đa chiều nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu. Việc thực hiện các dịch vụ xã hội cơ bản bắt đầu từ năm 2016. Trên cơ sở này, Chính phủ Việt Nam đã áp dụng phương pháp đo lường nghèo đa chiều vào năm 2015. Như vậy, nghèo đa chiều được đo lường bằng mức độ thiếu khả năng tiếp cận với 5 dịch vụ xã hội cơ bản, bao gồm: y tế; giáo dục; nhà ở; nước sạch và vệ sinh; và thông tin, được đo bằng 10 chỉ số. Hộ được coi là nghèo đa chiều nếu thiếu từ 3 chỉ số về mức độ thiếu thốn trở lên (trong số 10 chỉ số trên).

Tín dụng chính sách xã hội là hình thức tín dụng đặc biệt dành cho người nghèo và các đối tượng chính sách, là lợi ích chính sách do nhà nước tổ chức nhằm huy động các nguồn lực tài chính để cho hộ nghèo và các đối tượng khác vay vốn ưu đãi nhằm tạo cơ hội việc làm, nâng cao đời sống. .người. , hạn chế đói nghèo ở nhóm đối tượng này. Tín dụng chính sách xã hội có những đặc điểm cơ bản sau:

Đầu tiên, đây là kênh tín dụng phi lợi nhuận.

Thứ hai, đối tượng được hưởng các khoản tín dụng chính sách xã hội là người nghèo và các đối tượng chính sách khác do chính phủ chỉ định.

Thứ ba, nguồn vốn vay chủ yếu từ ngân sách quốc gia.

Thứ tư, có các điều kiện vay vốn ưu đãi như lãi suất vay, điều kiện vay (ví dụ hầu hết các dự án vay vốn không cần thế chấp tài sản), thủ tục vay vốn …

3. Thực trạng thực hiện tín dụng chính sách xã hội ở Việt Nam

Đảng và nhà nước luôn coi giảm nghèo bền vững và đảm bảo an sinh xã hội là mục tiêu, nhiệm vụ quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế đất nước. Các mục tiêu và nhiệm vụ này được thể hiện rõ ràng trong các văn kiện của đảng, nghị quyết của Quốc hội, chiến lược, kế hoạch, chương trình, chương trình của chính phủ. Chính phủ đã thành lập Ban chỉ đạo kế hoạch mục tiêu giảm nghèo bền vững quốc gia ở trung ương và địa phương để hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc tổ chức, thực hiện công tác giảm nghèo.

Những năm gần đây, hệ thống chính sách tín dụng ưu đãi không ngừng được hoàn thiện, tạo điều kiện cho người nghèo và các đối tượng chính sách được vay vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước, từng bước cải thiện đời sống, tạo chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện cho các vùng còn nghèo và vùng nghèo đói. Khu vực thiểu số. Chính phủ ban hành hoặc ban hành cơ chế, chính sách hoạt động tín dụng chính sách xã hội theo thẩm quyền, tạo sự đồng bộ, đáp ứng các mục tiêu cụ thể quy định dưới đây:

+ Chương trình Tín dụng Gia đình Người nghèo

Chính phủ đã ban hành Nghị định số 78/2002 / nĐ-cp ngày 4 tháng 10 năm 2002 về cấp tín dụng cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác và một số văn bản sửa đổi, bổ sung quy định này về mức cho vay tối đa đối với hộ nghèo Số tiền là 1 triệu đồng / hộ, không cần bảo lãnh vay vốn. Thời hạn cho vay được xác định theo dự án hoặc mục đích sử dụng vốn vay và thời gian hoàn vốn của dự án, có tính đến khả năng thanh toán của bên vay. Theo đề nghị của Hội đồng quản trị Ngân hàng Chính sách xã hội (vbsp), mức cho vay ưu đãi từng đợt do Thủ tướng Chính phủ quy định ở cấp quốc gia, trừ một số tổ chức kinh tế có tổ chức.

+ Chương trình tín dụng gia đình cận nghèo

Chính phủ đã ban hành Quyết định số 15/2013 / qd-ttg ngày 23 tháng 2 năm 2013 về tín dụng đối với hộ nghèo tương lai: Theo quyết định này, mức tín dụng đối với hộ nghèo tương lai do cán bộ xã hội và người nghèo tương lai thương lượng, nhưng Không vượt quá hạn mức cho vay hộ sản xuất kinh doanh đối với hộ nghèo trong từng thời kỳ. Lãi suất cho vay bằng 130% lãi suất cho vay hộ nghèo quy định trong từng thời kỳ, lãi suất nợ quá hạn bằng 130% lãi suất cho vay. Thời hạn cho vay với hộ nghèo thỏa thuận theo chu kỳ sản xuất kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng. Mỗi hộ được vay tối đa 30 triệu đồng. Điều kiện, hồ sơ, thủ tục và quy trình cho vay đối với hộ nghèo tương lai thực hiện như đối với hộ nghèo.

+ Chương trình tín dụng dành cho các gia đình thoát nghèo

Tham khảo: Văn học hiện đại là gì? Khái quát văn học hiện đại tại Việt Nam

Quyết định 28/2015 / qd-ttg và Quyết định 2/2021 / qd-ttg do Chính phủ ban hành ngày 21 tháng 7 năm 2015 sửa đổi, bổ sung Quyết định 28/2015 / qd – một số điều khoản trong hợp đồng là Tín dụng cho hộ gia đình thoát nghèo . Hiện mức cho vay đối với các dự án giảm nghèo mới tối đa là 100 triệu đồng / hộ, lãi suất cho vay là 8,25% / năm. Thời hạn cho vay do hợp tác xã tín dụng và người vay thoả thuận phù hợp với điều kiện sản xuất, hoạt động và khả năng thanh toán của khách hàng, nhưng không quá 05 năm.

+ Chương trình tín dụng nước sạch và vệ sinh nông thôn

Mục tiêu của chương trình là tạo nguồn vốn tín dụng để thực hiện Chiến lược quốc gia về nước sạch và vệ sinh nông thôn đến năm 2020 theo Quyết định số 104/2000 / qĐ-ttg ngày 25 tháng 8 năm 2000 của Chính phủ. Các gia đình được vay vốn tín dụng xã hội và đầu tư xây dựng các công trình cấp nước sạch, công trình vệ sinh nông thôn đạt tiêu chuẩn quốc gia bao gồm: nhà vệ sinh, hố xí, chuồng gia súc, gia cầm; xử lý nước thải, rác thải làng nghề nông thôn.

+ Các chương trình cho vay để hỗ trợ tạo, duy trì và mở rộng việc làm

Chính phủ đã ban hành Nghị định số 74/2019 / nĐ-cp ngày 23 tháng 9 năm 2019 sửa đổi, bổ sung một số chính sách liên quan đến hỗ trợ việc làm tại Nghị định số 61/2015 / nĐ-cp ngày 09 tháng 7 năm 2015 Điều khoản Tạo và Quỹ Việc làm Quốc gia. Do đó, mức cho vay tối đa đối với mặt bằng sản xuất, kinh doanh được nâng lên 2 tỷ đồng / dự án và 100 triệu đồng cho 1 lao động để tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm. Mức cho vay tối đa cũng được nâng lên từ 50 triệu đồng lên 100 triệu đồng / người. Nâng mức cho vay phù hợp với thực tế và đáp ứng kịp thời nhu cầu của người thụ hưởng là giải pháp hữu hiệu để hạn chế, đẩy lùi “tín dụng đen”. Ngoài ra, thời hạn vay cũng được tăng lên 120 tháng để đáp ứng nhu cầu vay vốn đầu tư trên 5 năm cho mục đích đầu tư siêu dài hạn.

+ Chương trình Tín dụng Sinh viên, Sinh viên Khó khăn

Chương trình Tín dụng Sinh viên (hssv), được chính phủ phê duyệt lần đầu tại Quyết định số 157/2007 / qd-ttg ngày 27 tháng 9 năm 2007, nhằm sử dụng các nguồn lực quốc gia để cung cấp các khoản tín dụng ưu đãi cho sinh viên khó khăn vay vốn sinh viên , thực hiện Công bằng xã hội, đảm bảo không để học sinh bỏ học do khó khăn về tài chính. Năm 2019, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1656 / qd-ttg ngày 19 tháng 11 năm 2019 điều chỉnh mức cho vay sinh viên từ 1,5 triệu / tháng / hssv lên 2,5 triệu / tháng / hssv, đáp ứng được 50% nhu cầu của sinh viên.

+ Chương trình cho vay hỗ trợ nhà ở cho các gia đình khó khăn

Chính phủ đã ban hành Quyết định số 33/2015 / qd-ttg ngày 10 tháng 8 năm 2015 về Chính sách hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015 (Đề án hỗ trợ nhà ở). Căn cứ số 167/2008 / qd- ttg Giai đoạn 2) Quyết định nhà ở. Quyết định nhằm bảo đảm nhà ở cho khoảng 311.000 hộ nghèo khu vực nông thôn, bảo đảm ổn định an ninh nhà ở, từng bước nâng cao đời sống, góp phần xóa đói, giảm nghèo bền vững.

+ Chương trình cho vay người lao động ở nước ngoài

Chính phủ đã ban hành Nghị định số 74/2019 / nĐ-cp sửa đổi, bổ sung một số quy định của Nghị định số 61/2015 / nĐ-cp về chính sách hỗ trợ tạo việc làm và Quỹ quốc gia về việc làm. Theo chương trình, mức vay tối đa là 100% chi phí đi nước ngoài quy định trong hợp đồng lao động đã ký kết. Đối tượng được hưởng chính sách này là người lao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo; người lao động là thân nhân của người có công với cách mạng; người lao động là người dân tộc thiểu số, người bị thu hồi đất, người lao động vùng nghèo.

+ Chương trình Cho vay Nhà ở Xã hội

Ngày 01 tháng 4 năm 2021, Chính phủ ban hành Nghị định số 49/2021 / nĐ-cp sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2015 / nĐ-cp về phát triển và quản lý nhà ở xã hội. Theo quy định này, thời hạn cho vay mua, thuê mua nhà ở giá rẻ do ngân hàng và khách hàng thỏa thuận tùy theo khả năng trả nợ của khách hàng, không quá 25 năm kể từ ngày phát hành khoản vay đầu tiên. Trong khi Nghị định số 100/2015 / nĐ-cp trước đây quy định thời hạn cho vay tối thiểu là 15 năm kể từ ngày thanh toán khoản vay đầu tiên.

Thông qua chính sách tín dụng xã hội, Quốc hội và chính phủ phân bổ nguồn lực từ ngân sách quốc gia để huy động các nguồn lực của toàn xã hội hướng tới mục tiêu xóa đói giảm nghèo. Chẳng hạn, chỉ tính riêng trong giai đoạn 2016-2020, nguồn lực được phân bổ và huy động để thực hiện kế hoạch mục tiêu giảm nghèo bền vững của cả nước đã vượt 93 nghìn tỷ đồng. 100% quỹ tín dụng chính sách xã hội được đầu tư vào các xã, huyện, thị xã trên cả nước, ưu tiên các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt nghèo, vùng sâu, vùng xa, vùng sâu, vùng xa. Tính đến giữa năm 2020, kết quả thực hiện các dự án tín dụng chính sách ngân hàng đã góp phần giảm nghèo bền vững và xây dựng nông thôn mới, với dư nợ cho vay là 2.107.318 tỷ đồng, tăng 2.107.318 tỷ đồng. Gấp 1,11 lần cuối năm 2016 với 83 tổ chức tín dụng tham gia, 1.182 quỹ tín dụng nhân dân và 4 tổ chức tài chính vi mô.

Nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội đã giúp hơn 2,1 triệu hộ thoát nghèo; thu hút và tạo cơ hội việc làm cho hơn 1,3 triệu lao động, gần 350.000 sinh viên có nhu cầu được vay vốn sinh viên, xây dựng hơn 7,4 triệu công trình nước sạch và vệ sinh. . Người nghèo, người dân tộc thiểu số, nhóm dễ bị tổn thương có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được ngân sách nhà nước cấp thẻ bảo hiểm y tế (bhyt). Tính đến cuối năm 2019, số người tham gia BHYT cả nước là 85,39 triệu người, tăng 44,81% so với năm 2012, chiếm 90,0% dân số và đạt 90,7% vào năm 2020. Tổng số đối tượng được ngân sách nhà nước hỗ trợ mua bh chiếm 36%, hỗ trợ một phần 18%, số người tham gia bảo hiểm gia đình đạt 15,7 triệu người. Từ năm 2011 đến năm 2015, vốn tín dụng chính sách xã hội đã hỗ trợ cho 531.000 lượt hộ nghèo, và từ năm 2016 đến năm 2020, khoảng 144.000 lượt hộ nghèo được vay vốn mua nhà ở. Nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội được sử dụng để xây mới và sửa chữa 332.229 căn nhà cho người nghèo, người yếu thế. Thông qua việc sử dụng vốn tín dụng chính sách xã hội, tỷ lệ dân số nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh tăng từ 80,5% năm 2012 lên 85% năm 2015 và 90% năm 2020.

Theo báo cáo của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Việt Nam đã đạt được Mục tiêu giảm nghèo Thiên niên kỷ trước thời hạn 10 năm và được cộng đồng quốc tế đánh giá là một điển hình hiệu quả về xóa đói giảm nghèo. Nếu tỷ lệ hộ nghèo của Việt Nam là 58,1% vào năm 1993, thì năm 2015 đã giảm xuống còn 9,88% thì năm 2019 đã giảm tiếp xuống 3,75% và xuống còn khoảng 2,75% vào năm 2020.

Kết quả là sau 5 năm, tỷ lệ hộ nghèo bình quân cả nước giảm khoảng 1,43% / năm, đạt mục tiêu Quốc hội đề ra. Tỷ lệ hộ nghèo vùng ĐBKK giảm còn 27,85%, bình quân giảm 5,65% / năm, vượt mục tiêu Quốc hội giảm bình quân hàng năm 4%. tỷ lệ hộ nghèo ở nông thôn còn khoảng 24%. Xét trên bình diện vùng, 8/64 địa phương thoát nghèo, chiếm tỷ lệ 12,5%, 14/30 địa bàn tái nghèo được hưởng cơ chế xoá đói giảm nghèo của Nghị quyết 30a và khoảng 32 địa phương được thoát nghèo và đạt các mục tiêu đã đặt ra. Chia theo xã, có 95/292 xã vùng bãi ngang ven biển và hải đảo được giải phóng khỏi vùng ĐBKK, chiếm 32,5% (trên 2,5%). 1.298 / 3.973 thôn nghèo (32,67%) và 125 / 2.193 xã nghèo (5,69%) đã hoàn thành 135 mục tiêu dự án, tương ứng với mục tiêu đề ra trong Kế hoạch mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020 (20-30% của thôn đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số miền núi được giải phóng khỏi hoàn cảnh đặc biệt). sự khó khăn).

4. Tác động của tín dụng chính sách xã hội đối với việc đạt được các mục tiêu giảm nghèo bền vững

Thành tích

Việc áp dụng và thực hiện các biện pháp tín dụng chính sách xã hội đã mang lại những kết quả tích cực cho việc thực hiện các mục tiêu giảm nghèo bền vững của Việt Nam trên nhiều phương diện khác nhau.

Hỗ trợ phát triển kinh tế và xã hội

Dự án tín dụng ưu đãi bám sát mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của địa phương và phù hợp với sự phát triển của các vùng, miền. Việc cho vay và các nguồn vốn tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách đã mang lại hiệu quả thiết thực, đặc biệt góp phần quan trọng vào việc hoàn thành các tiêu chuẩn xây dựng nông thôn mới và mục tiêu chung về phát triển kinh tế, xã hội.

Chương trình tín dụng chính sách xã hội huy động được nhiều nguồn lực tài chính để cho hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách khác vay vốn để phát triển sản xuất, kinh doanh và hoạt động kinh tế của hộ gia đình. Nguồn vốn tín dụng chính sách chủ yếu tập trung vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, đây là những ngành được Chính phủ chú trọng phát triển. Nguồn vốn tín dụng ưu đãi giúp các gia đình ổn định sản xuất, tăng sản phẩm, nâng cao thu nhập, chuyển đổi phương thức sản xuất, hoạt động, từng bước ổn định đời sống; hỗ trợ các nhu cầu cơ bản trong sinh hoạt và cải thiện đời sống.

ổn định hệ thống chính trị ở cơ sở

Trong thời gian qua, tín dụng chính sách xã hội đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách, mục tiêu, nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước. Tín dụng chính sách xã hội giúp quần chúng nhân dân bám trụ, bám làng, đồng thời giúp chính quyền địa phương hoạch định, hướng dẫn phát triển kinh tế địa phương, tiếp cận với quần chúng nhân dân nhiều hơn, nắm bắt tâm tư nguyện vọng, giải quyết những khó khăn, vướng mắc của họ kịp thời, góp phần giữ vững ổn định cơ sở, an ninh, trật tự an toàn xã hội.

Chủ yếu thông qua hình thức tín dụng chính sách xã hội ủy thác của các tổ chức chính trị – xã hội (99,8%) đã tạo điều kiện thuận lợi để tập hợp, mở rộng và phát triển đoàn viên, hội viên, gắn kết cộng đồng. Do đó, công tác tuyên truyền, vận động cũng hiệu quả hơn, hoạt động của tổ chức công đoàn, hội được nhân dân quan tâm hơn, góp phần củng cố vững chắc hệ thống chính trị, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức chính trị. ——Xã hội góp phần xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, bảo vệ an sinh xã hội, phòng, chống tệ nạn tín dụng đen.

Xem thêm: Xét nghiệm vi khuẩn Lậu và Chlamydia Trachomatis bằng kỹ thuật Realtime PCR đa mồi trên cùng một mẫu bệnh phẩm

Góp phần bảo vệ an ninh quốc phòng

Kết quả thực hiện các dự án tín dụng chính sách xã hội trong những năm qua đã khẳng định tín dụng chính sách là phương thức hữu hiệu góp phần thực hiện các mục tiêu lớn của Đảng và đất nước như xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới. Với việc triển khai đến 100% thôn, buôn, nguồn vốn tín dụng chính sách đã góp phần ổn định chính trị, an sinh xã hội, nhất là trật tự an toàn xã hội ở nông thôn, đẩy lùi nạn tín dụng đen. Ngoài ra, hộ nghèo và các đối tượng chính sách được sử dụng nguồn vốn hỗ trợ của Chính phủ để sản xuất kinh doanh, tạo việc làm, từng bước nâng cao trình độ sản xuất, điều hành và quản lý, góp phần giữ vững quốc phòng, an ninh và trật tự xã hội.

Một số hạn chế và lý do

Trong thời gian qua, hoạt động tín dụng chính sách xã hội luôn được các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương coi trọng, chỉ đạo và được các cấp, các ngành và các tổ chức có liên quan thực hiện có hiệu quả. Một số khó khăn và hạn chế như sau:

– So với nhu cầu thực tế của người nghèo và các đối tượng chính sách, nguồn vốn thực hiện các chương trình tín dụng chính sách xã hội còn hạn chế, nhất là cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm. Tăng trưởng tín dụng hàng năm chủ yếu đến từ nguồn vốn trung ương.

– Chất lượng tín dụng ở một số nơi còn thấp, nợ quá hạn cao. Một số hộ dân sau khi vay vốn đã bỏ đi khỏi địa phương mà không rõ thông tin, địa chỉ gây khó khăn trong công tác thu hồi và xử lý nợ. Tín dụng đối với hộ mới được nâng lên áp dụng đối với hộ đã được đưa ra khỏi danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo trong thời hạn 3 năm mà thời gian hộ đó không đủ khả năng tiếp tục vươn lên thoát nghèo. Bên cạnh đó, ở một số nơi, sự phối hợp của các tổ chức, tổ chức chính trị – xã hội trong việc hướng dẫn, hỗ trợ quần chúng nhân dân sử dụng quỹ còn hạn chế, dẫn đến một số người nghèo sử dụng quỹ, vay vốn không hiệu quả, không vươn lên thoát khỏi một cách bền vững. nghèo nàn.

– Mức cho vay của một số chương trình tín dụng chính sách xã hội không hoàn toàn phù hợp dẫn đến người vay không đủ nguồn lực để thực hiện mục đích vay. Ví dụ, phương án tín dụng nước sạch và vệ sinh nông thôn hiện nay với mức cho vay tối đa 10 triệu đồng / công là không phù hợp. Do giá nguyên liệu và nhân công tăng cao nên mức cho vay này không đáp ứng đủ các chi phí cần thiết để các dự án xây dựng nhà ở đảm bảo quy mô và chất lượng, đặc biệt là xây dựng chuồng trại, xử lý nước thải, rác thải ở các làng nghề nông thôn. Ngoài ra, đối tượng vay không bao gồm các hộ gia đình sống tại các khu vực đô thị như thành phố, thị xã, đặc biệt là hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có thu nhập trung bình và các chủ đầu tư xây dựng công trình. Trọng tâm của cung cấp nước sạch nông thôn và quản lý môi trường tập trung.

Hạn chế trong việc thực hiện các biện pháp tín dụng chính sách xã hội xuất phát từ một số nguyên nhân, như sau:

-Nguồn ngân sách của các tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương hạn hẹp, thu ngân sách thấp, chi ngân sách của nhiều tỉnh vẫn phải do ngân sách trung ương cấp bù.

– Một số hộ vay, nhất là hộ nghèo, trình độ, năng lực sản xuất, hoạt động còn hạn chế, thường xuyên chịu tác động của thời tiết, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh … Hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp, vốn vay ngân hàng khó trả, phát sinh nợ quá hạn, Nguy cơ tái nghèo. Bên cạnh đó, một số chi hội ủy thác cấp thị xã chưa làm tốt nội dung ủy thác, chưa chủ động sâu sát cơ sở dẫn đến việc sử dụng vốn vay chưa hiệu quả, có nguy cơ nợ khó đòi. được tìm thấy trong thời gian.

– Thiếu sự phối hợp chỉ đạo của các ngành, các cấp trong việc lồng ghép các kế hoạch, dự án, chương trình phát triển kinh tế – xã hội, chuyển giao công nghệ, hoạt động đào tạo, giáo dục, thương mại, tiêu thụ sản phẩm với hoạt động tín dụng chính sách để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay. Một số chính quyền địa phương chưa quan tâm đúng mức đến hoạt động tín dụng chính sách xã hội và quản lý quỹ, chưa giải quyết được những tồn tại của hoạt động tín dụng chính sách ở địa phương.

Một số đề xuất

Có thể nói, tín dụng chính sách xã hội tiếp tục được coi là công cụ kinh tế hữu hiệu để đất nước đạt được mục tiêu giảm nghèo đa chiều nhanh và bền vững; góp phần tích cực vào việc thực hiện suôn sẻ các mục tiêu và kế hoạch quốc gia về giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới và góp phần phát triển kinh tế, xã hội trên cả nước. Hoạt động tín dụng chính sách xã hội phát triển theo hướng ổn định, bền vững sẽ tạo điều kiện hỗ trợ tốt nhất cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách, đảm bảo 100% hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ mới được nâng lên. được vay vốn Được vay vốn từ Chương trình tín dụng chính sách xã hội. Để đạt được mục tiêu này, cần xem xét một số bước cụ thể:

– Không ngừng nâng cao vai trò, trách nhiệm và hiệu quả hoạt động của cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp và các tổ chức chính trị – xã hội trong việc thực hiện tín dụng chính sách xã hội. Muốn vậy, cần tiếp tục quản lý hiệu quả các quỹ tín dụng chính sách trên cơ sở điều kiện thực tế, tăng nguồn vốn mới cho các đối tượng chính sách như ủy thác cho vay người nghèo trong vùng. Mô hình này trong thời gian qua đã phát huy hiệu quả, đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế, xã hội của địa phương, giữ vững ổn định an ninh chính trị, xã hội.

– Tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng chính sách xã hội, đặc biệt chú trọng hoạt động của các tổ chức chính trị – xã hội nhận ủy thác. Cụ thể, đề nghị thực hiện kiểm toán để đảm bảo khoản vay được cấp cho đối tượng và cấp phát kịp thời, không để hộ nghèo, hộ cận nghèo đủ điều kiện vay vốn, có nhu cầu vay vốn nhưng không được vay vốn. bỏ lỡ. Đồng thời, làm tốt công tác quản lý nợ và xử lý nợ rủi ro theo quy định; tập trung phân tích, đánh giá và đề xuất các giải pháp cụ thể để xử lý nợ quá hạn, nợ chiếm dụng, nợ lãi tồn đọng và có biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn phát sinh nợ khó đòi.

——Nâng cao chất lượng, hiệu quả nguồn nhân lực và thực hiện tín dụng chính sách xã hội. Để đạt được mục tiêu này, cần tăng cường đào tạo, tập huấn, nâng cao trình độ, năng lực của người được ủy thác và các tổ chức chính trị – xã hội. Ngoài ra, cần phổ biến thông tin, chủ trương, chính sách liên quan đến hoạt động tín dụng chính sách nhằm tạo điều kiện tối ưu cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác có được vốn từ các chương trình tín dụng. Và sử dụng có trách nhiệm vốn tín dụng chính sách xã hội để trả nợ vay.

– Tăng cường công tác thông tin tín dụng chính sách, đặc biệt là chính sách tín dụng mới, để các cấp, các ngành và các tầng lớp nhân dân biết để thực hiện và giám sát tại địa phương. Công khai tác hại của “tín dụng đen”, nắm bắt và phản ánh kịp thời tình hình hoạt động “tín dụng đen” trên địa bàn, cùng với các ngành chức năng địa phương xây dựng các biện pháp ngăn chặn, đẩy lùi “tín dụng đen”. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ truyền thông, truyền tải thông tin chính xác, kịp thời, thuận tiện nhất đến các đối tượng chính sách, giúp họ dễ dàng nhận được các khoản tín dụng chính sách xã hội, hỗ trợ xóa chính sách xã hội, xóa đói, giảm nghèo, thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững của Việt Nam.

Tham khảo:

1. Ban chấp hành trung ương. 2012. Nghị quyết số 15-nq / tw của Chủ tịch Tập lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương về một số vấn đề chính sách xã hội 2012-2020.

2. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội. 2015. Kế hoạch tổng thể chuyển đổi phương pháp đo lường nghèo từ đơn lẻ dựa trên thu nhập sang phương pháp tiếp cận đa chiều cho giai đoạn 2016-2020.

3. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội. 2018. Báo cáo Nghèo Đa Chiều của Việt Nam: Giảm Nghèo Toàn Diện và Đảm Bảo Chất Lượng Cuộc Sống Cho Mọi Người

4. Hội nghị. 2014. Nghị quyết 76/2014 / qh13: Đẩy nhanh thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững đến năm 2020.

5. Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế – Xã hội Quốc gia. 2014. Một cách tiếp cận mới để đánh giá nghèo ở Việt Nam. Tài liệu của Viện Nghiên cứu Kinh tế Việt Nam.

6. UNICEF (2018), Toàn bộ Đo lường Nghèo Đa chiều Trẻ em ở Việt Nam, Báo cáo Nghiên cứu

7. Ngân hàng Thế giới (2018). Leo lên Bậc thang: Xóa đói giảm nghèo và Chung thịnh vượng ở Việt Nam

Bài viết về Tạp chí Thị trường Tài chính và Tiền tệ Số 13/2021

Xem thêm: 200 Từ vựng tiếng Anh chủ đề ngân hàng dành riêng cho giao dịch viên

Sỹ Văn

Chuyên gia về sắc đẹp. Nhiều năm công tác trong ngành makeup và thời trang.

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button