Giải đáp cuộc sống

Tổn thất phúc lợi xã hội là gì

Trong quá trình trẻ hóa đất nước, việc tăng cường phúc lợi xã hội trở nên cần thiết để đất nước có thể đáp ứng những nhu cầu cơ bản của người dân. Trong điều kiện hiện nay, nhà nước không thể chi nhiều cho phúc lợi xã hội mà phải tập trung vào những vấn đề cơ bản nhất của nhân dân lao động, đảm bảo công bằng trong các thành phần kinh tế, khuyến khích nhân dân tham gia xây dựng và phát triển đất nước, phúc lợi xã hội không được vượt quá khả năng chi trả của nền kinh tế, đồng thời không thụ động, cứng nhắc, đa dạng nhằm phát huy các nguồn lực của toàn xã hội.

1. Nhận thức về Phúc lợi Xã hội và Phúc lợi Xã hội ở Việt Nam

Đang xem: Tổn thất phúc lợi xã hội là gì

Phúc lợi xã hội (plxh) là phần thu nhập quốc dân dùng để đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của các thành viên trong xã hội, chủ yếu để phân phối lại, trừ lao động. Ba thành phần cơ bản đảm bảo phúc lợi xã hội là nhà nước, thị trường lao động và dân cư (cá nhân / hộ gia đình).

Trợ cấp xã hội bao gồm các chi phí xã hội, chẳng hạn như: chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội; học bổng sinh viên, học phí miễn phí cho sinh viên; chăm sóc y tế, nghỉ ngơi, dưỡng bệnh, nhà trẻ, mẫu giáo; v.v. Với nội dung như vậy, mục tiêu của plx là giảm bình đẳng mất an toàn xã hội, đảm bảo mọi thành viên trong xã hội đều được hưởng thành quả của sự phát triển. Theo trình độ phát triển kinh tế xã hội, quỹ phúc lợi thường được chia thành ba loại: nhà nước tập trung quản lý; quỹ phúc lợi cho doanh nghiệp và cơ quan, quỹ phúc lợi tập thể cho hợp tác xã và tập đoàn sản xuất [1].

Việc thực hiện các quan hệ xã hội vì người dân luôn được đảng và nhà nước ta quan tâm. Những ngày đầu lập nước, trong hoàn cảnh nhân dân đói khổ, ngày 28-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi đồng bào cả nước “Mười ngày một bữa, ba bữa ăn một Ngày. Một tháng. Đem gạo (mỗi bữa một bơ) cứu người nghèo. “Bằng cách huy động sức dân như vậy đã giúp hàng nghìn người nghèo có cơm ăn, áo mặc, đỡ đói. Năm 1945, chính phủ ban hành chính sách quy định người lao động được trợ cấp khi bị sa thải [2]. Hiến pháp năm 1946 và các sắc lệnh tiếp theo đã quy định hệ thống phúc lợi xã hội đối với bệnh tật, tai nạn và hưu trí của người dân [3]. Năm 1947, hệ thống hưu trí cho người tàn tật và hệ thống lương hưu cho các gia đình liệt sĩ cũng được ban hành.

Hòa bình lập lại năm 1954, nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung được thành lập ở miền Bắc và được mở rộng ra cả nước sau khi thống nhất đất nước năm 1975, với mục tiêu là mô hình nhà nước phúc lợi (nhà nước bao cấp) Trong thời kỳ này, BHXH cụ thể ra đời Một hệ thống giúp đảm bảo thu nhập thay thế cho người lao động trong trường hợp ốm đau, tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, mất sức, v.v. Các đối tượng lao động, thai sản, nghỉ hưu, tử tuất [4] ; các đối tượng xã hội, người bị tai nạn chiến tranh cũng được hỗ trợ [5]. Trong thời kỳ kháng chiến, người Mỹ, người hưu trí, thương bệnh binh, gia đình liệt sĩ và những người được hưởng trợ cấp tương tự đã được cung cấp tận nhà, kịp thời, đầy đủ.

Sau khi đất nước thống nhất, trong cuộc khủng hoảng kinh tế những năm 1980, ngoài chính sách chung, nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp bảo đảm đời sống và phúc lợi cho người lao động.

Thực hiện chính sách đổi mới (từ năm 1986), nền kinh tế chuyển từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ góc độ quản lý xã hội, mô hình nhà nước phúc lợi đang dần chuyển sang mô hình nhà nước xã hội nhằm phát huy vai trò và trách nhiệm của các chủ thể (nhà nước, doanh nghiệp, người dân và các đối tác xã hội khác) tham gia. Góp phần phát triển kinh tế và chia sẻ thành quả của sự phát triển Điều 59, khoản 2, Hiến pháp năm 2013, hiến pháp quốc gia tạo cơ hội bình đẳng cho công dân được hưởng phúc lợi xã hội, xây dựng hệ thống an sinh xã hội và áp dụng các biện pháp trợ giúp người già, người tàn tật, người già, người nghèo và các khó khăn khác Chính sách đám đông. Đang xảy ra.

Thể chế hóa các chính sách của đảng và hiến pháp của đất nước, chế độ ốm đau, thai sản, thương tật liên quan đến công việc – bệnh nghề nghiệp, hưu trí, sinh tồn, trợ cấp tiền mặt hàng tháng, người nhận an sinh xã hội, hỗ trợ toàn bộ hoặc một phần thẻ bảo hiểm y tế mệnh giá, miễn học phí, tiền mặt Hỗ trợ và tín dụng ưu đãi được quy định trong pháp luật, chính sách đối với nhà ở, đất ở, nước sạch, thông tin và truyền thông, giao thông công cộng, công trình nghệ thuật, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử … cho người nghèo. Về cơ bản, hệ thống phúc lợi xã hội thực hiện tốt chức năng phân phối lại thu nhập, hỗ trợ người dân hưởng thành quả của quá trình phát triển.

Có thể thấy, khái niệm và nội hàm của plxh: (1) plxh là một bộ phận của thu nhập quốc dân, được sử dụng để góp phần đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của các thành viên xã hội; (2) việc thực hiện plxh ngoài phân phối theo công việc còn phân bổ lại; (3) plxh là một biện pháp giảm bất bình đẳng xã hội.

Ở nước ta, plxh được thực hiện thông qua 3 nguồn tài trợ: (1) dựa trên sự đóng góp của các bên tham gia thị trường; (2) ngân sách nhà nước đảm bảo; (3) huy động vốn từ cộng đồng.

2. Vai trò của phúc lợi xã hội

Giúp ổn định đời sống của công nhân, viên chức, người lao động và nhân dân, thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập trong trường hợp người lao động ốm đau, mất khả năng lao động, thất nghiệp, chết để nhanh chóng khắc phục thiệt hại về vật chất, phục hồi sức khỏe.

Đảm bảo sự an toàn và ổn định của toàn bộ nền kinh tế – xã hội, góp phần ngăn ngừa và hạn chế tổn thất. Khi rủi ro phát sinh, hệ thống phúc lợi xã hội hỗ trợ kịp thời, tạo điều kiện cho người lao động có cuộc sống ổn định.

Xem thêm: Chớ chủ quan khi bị đau bụng bên phải ở nữ giới

Phúc lợi xã hội, trong đó bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT) là trụ cột cơ bản để tăng mối quan hệ gắn bó giữa người lao động, người sử dụng lao động và người sử dụng lao động.

Phúc lợi xã hội góp phần vào tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội. Các Quỹ Phúc lợi Xã hội, bao gồm Quỹ Bảo hiểm Xã hội, là một nguồn thu tài khóa tập trung tương đối lớn cho người lao động và gia đình của họ.

3. Các loại phúc lợi cho công nhân, viên chức và người lao động

A. Các lợi ích bắt buộc

là lợi ích tối thiểu mà tổ chức phải cung cấp dựa trên yêu cầu về lợi ích. Các quyền lợi bắt buộc có thể là: loại tài trợ, bảo hiểm xã hội, trợ cấp thất nghiệp, bảo hiểm y tế. Tại Việt Nam, các phúc lợi bắt buộc bao gồm 5 hệ thống BHXH cho người lao động: trợ cấp ốm đau, trợ cấp thương tật hoặc bệnh nghề nghiệp, trợ cấp thai sản, trợ cấp hưu trí và trợ cấp tuất.

b. Các lợi ích tự nguyện

là loại lợi ích mà tổ chức cung cấp, tùy thuộc vào khả năng kinh tế của tổ chức và lợi ích của lãnh đạo; dành cho các doanh nghiệp có bảo hiểm hưu trí bổ sung.

c. Quyền lợi bảo hiểm bao gồm:

– Bảo hiểm Y tế: Thanh toán để phòng ngừa bệnh tật, chẳng hạn như chương trình tập thể dục để tránh căng thẳng, khi căng thẳng gia tăng trong công việc hoặc cơ sở chăm sóc do ảnh hưởng của bệnh tật hoặc ốm đau.

– Bảo hiểm Nhân thọ: Tiền trả cho gia đình nhân viên khi nhân viên qua đời. Có thể là người sử dụng lao động hỗ trợ thanh toán cho một số hoặc tất cả bảo hiểm.

– Bảo hiểm Khuyết tật: Một số công ty cũng cung cấp loại bảo hiểm này cho những người lao động bị mất khả năng lao động không liên quan đến công việc họ đang làm.

d. Các quyền lợi được đảm bảo bao gồm:

– Đảm bảo thu nhập: Được trả cho những nhân viên bị mất việc làm vì các lý do tổ chức, chẳng hạn như cắt giảm sản xuất, sa thải, giảm nhu cầu sản xuất và dịch vụ

Tham khảo: Bảo hiểm y tế: như thế nào gọi là vượt tuyến, trái tuyến?

– Bảo đảm lương bổng: Nhân viên làm việc trong công ty đến một độ tuổi nhất định sẽ nghỉ hưu và sẽ được trả lương cho nhân viên khi họ đạt đủ số năm làm việc quy định của công ty.

4. Công đoàn quan tâm đến phúc lợi của đoàn viên và người lao động

Có thể nói, công đoàn Việt Nam từ khi thành lập đến nay đã đóng vai trò quan trọng trong việc chăm lo phúc lợi xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của giai cấp công nhân, viên chức, người lao động. theo hiến pháp và luật pháp. Công đoàn các cấp, nhất là Công đoàn ngành đã tổ chức nhiều hoạt động quan tâm đến phúc lợi người lao động và thực hiện các kế hoạch phúc lợi cho người lao động; tổ chức “Tết sum vầy” và tháng người lao động; đề xuất thành lập tổ chức công đoàn góp phần giải quyết những bức xúc của công nhân các khu công nghiệp. Thúc đẩy đối thoại và thương lượng tập thể, góp phần xây dựng hệ thống và chính sách an toàn, từng bước cải thiện quyền lợi và phúc lợi của người lao động, thúc đẩy sản xuất và hoạt động phát triển, xây dựng quan hệ lao động – quản lý tiến bộ, hài hòa và ổn định.

Tổ chức công đoàn trực tiếp tham gia giải quyết những nhu cầu cấp thiết, từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống của người lao động về nhà ở, nhà trẻ, siêu thị, trung tâm văn hóa, tư vấn pháp luật, pháp luật …, góp phần cải thiện và nâng cao tuổi thọ của ngành. Đặc biệt, mái ấm công đoàn được các cấp công đoàn tích cực triển khai với nhiều hình thức hiệu quả và trở thành công trình có ý nghĩa nhân văn cao cả. Trong 5 năm qua (2013-2018), đã có hơn 18.000 lượt công đoàn viên nghèo xây mới nhà ở, với tổng số tiền hơn 382 tỷ đồng.

Công đoàn các cấp và công đoàn cơ sở tiến hành thương lượng, đối thoại nhằm tìm kiếm phúc lợi cho người lao động, điều này thể hiện vai trò đại diện của tổ chức công đoàn và phù hợp với xu thế tất yếu. Các công đoàn cũng góp phần thúc đẩy thực hành vệ sinh an toàn thực phẩm, đảm bảo sức khỏe người lao động, tăng năng suất và hiệu quả lao động; đàm phán nâng cao giá trị bữa ăn ca để nâng cao sức khỏe người lao động

Công đoàn các cấp luôn coi trọng công tác phụ nữ, có chính sách đối với cán bộ nữ, thúc đẩy bình đẳng nam nữ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của lao động nữ. Tham gia thực hiện các giải pháp khắc phục các vấn đề trường học, nhà trẻ tại các khu công nghiệp, khu chế xuất; những thay đổi quan trọng trong công tác vận động và chăm sóc sức khỏe nữ công nhân; nhân rộng mô hình quán sữa công ty; Phúc lợi.

5. Tồn tại, hạn chế và giải pháp phát triển phúc lợi xã hội

Sự tồn tại, hạn chế

Mức độ bao phủ của plxh vẫn còn hạn chế, chủ yếu nhắm vào các nhóm giàu có với mức tiêu dùng trên $ 15 ppp / người / ngày (thông qua chính sách bảo hiểm), còn được gọi là tầng lớp trung lưu toàn cầu và mức tiêu dùng nghèo và cận dưới $ 5,5 ppp / ngày vì người nghèo (chính sách trợ giúp xã hội do ngân sách nhà nước bảo đảm và huy động của cộng đồng). Tầng lớp trung lưu mới nổi (hiện chiếm gần 60% dân số) với mức tiêu dùng 5,5-15 đô la ppp / ngày dường như bị bỏ rơi, không được tham gia An sinh xã hội và không đủ điều kiện nhận trợ cấp. Giúp đỡ xã hội bằng ngân sách nhà nước [6] [6]. Tầng lớp trung lưu mới nổi là một nhóm năng động nhưng dễ bị tổn thương, dễ bị đói nghèo. Việc thực hiện và thực hiện các chính sách xã hội phù hợp với đặc điểm của nhóm này sẽ thúc đẩy trách nhiệm của họ trong việc xây dựng một xã hội gắn kết, đồng thời giảm gánh nặng cho ngân sách quốc gia cần hỗ trợ họ khi họ gặp rủi ro, đặc biệt là khi về già.

Việc khu vực tư nhân (doanh nghiệp) thực hiện các chính sách xã hội cho người lao động và cộng đồng vẫn chưa phải là một xu hướng xã hội. Thực hiện tốt các quyền lợi của người lao động là một trong những cơ sở giúp phát huy hết tác dụng của người lao động về thái độ, tinh thần trách nhiệm, chủ động, cống hiến trong sản xuất, góp phần nâng cao năng suất lao động, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Vì vậy, cần có cơ chế khuyến khích để thúc đẩy các công ty thực hiện trách nhiệm xã hội và thúc đẩy sự gắn kết và thịnh vượng của cộng đồng.

Chi ngân sách phúc lợi xã hội tăng dần nhưng tỷ trọng chi trong tổng chi ngân sách và gdp ngày càng giảm, cho thấy việc thực hiện các chính sách xã hội chưa được quan tâm đúng mức, chưa đúng với chủ trương của Đảng. – Chính sách kinh tế và chính sách an sinh xã hội gắn bó chặt chẽ với nhau, nhằm phát triển kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, bảo đảm cho nhân dân được hưởng thành quả đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước [7] và nhân dân cần . Tỷ trọng chi phúc lợi xã hội trong tổng chi ngân sách quốc gia giảm từ 10,58% năm 2012 xuống 5,67% năm 2018, so với GDP giảm dần từ 2,95% xuống 1,9% cùng kỳ. Do đó, cần xây dựng bộ tiêu chuẩn xã hội tối thiểu, cuối cùng là quy định tỷ trọng chi thực hiện chính sách xã hội trong tổng chi ngân sách quốc gia hoặc tính theo gdp hàng năm.

Mặc dù phạm vi phủ sóng của plxh và asxh vẫn còn hạn chế, các vấn đề lạm dụng, trục lợi và lãng phí ngân sách vẫn tiếp tục xảy ra. Nghiên cứu của UNDP chỉ ra rằng tỷ lệ rò rỉ ở Việt Nam là khoảng 40% [8]. Nguyên nhân chính là hệ thống quản lý và cung cấp dịch vụ lạc hậu. Vì vậy, cần tận dụng công nghệ số để nhanh chóng hiện đại hóa hệ thống asxh và plxh của nước ta.

Các giải pháp phúc lợi xã hội gần đây

Sự quyết tâm cao của Đảng và Nhà nước cùng với việc nâng cao tiềm lực kinh tế của đất nước là cơ sở quan trọng để bảo vệ tốt hơn an sinh xã hội và phúc lợi xã hội. Tuy nhiên, như đã nói ở trên, chúng ta cũng gặp không ít khó khăn, thách thức. Vì vậy, cần nhận thức mới, đầy đủ hơn về ASXH và phúc lợi xã hội, tiếp tục phát huy những thành tựu, kinh nghiệm tốt, khắc phục những tồn tại, hạn chế, xây dựng một nền ASXH và phúc lợi xã hội có hệ thống, đồng bộ và hiệu quả. Trong thời gian tới, để nâng cao phúc lợi xã hội, cần tập trung thực hiện một số kế hoạch tổng thể, như: (1) Tiếp tục đẩy mạnh điều chỉnh cơ cấu kinh tế, kết hợp với đổi mới phương thức tăng trưởng; thực hiện các kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội. Liên quan đến giải quyết việc làm; (2) Thực hiện có hiệu quả Nghị quyết mười Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa VII về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội (Nghị quyết số 28-nq / tw); Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế, xã hội vùng dân tộc thiểu số năm 2021 và Miền núi – 2030; cập nhật các phương pháp giảm nghèo, thực hiện các chính sách hỗ trợ có điều kiện, giảm hỗ trợ miễn phí, tập trung tạo điều kiện, khuyến khích hộ nghèo, hộ cận nghèo phấn đấu giảm nghèo bền vững; (4) Thực hiện các chính sách ưu đãi đối với người có công và chính sách trợ giúp xã hội đối với các đối tượng bảo trợ xã hội; (5) Tăng cường huy động nguồn lực, phát huy vai trò chủ đạo của nhà nước, nâng cao mức phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống dịch vụ xã hội cơ bản đa dạng; (6) Khuyến khích xã hội Tham gia, làm tốt công tác an sinh xã hội và phúc lợi xã hội; (7) Nâng cao chất lượng xây dựng, hoàn thiện và thực hiện chính sách, pháp luật về phúc lợi xã hội; (8) Quan tâm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đoàn viên công đoàn; trong công tác xây dựng và thành lập tổ chức công đoàn khu công nghiệp, khu chế xuất; sản phẩm, dịch vụ mới, tổ chức đàm phán, ký kết thỏa thuận nhằm mang lại nhiều lợi ích cho đoàn viên công đoàn; tích cực tham gia của người lao động. Phát triển công việc đàng hoàng là một trong những nhiệm vụ quan trọng của tổ chức công đoàn. Tăng cường đào tạo và nâng cao trình độ nhận thức, nâng cao kỹ năng của người lao động để nâng cao năng suất lao động cá nhân, đảm bảo rằng các đổi mới trong quy trình quản lý và thay đổi kỹ thuật sản xuất lao động trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư được dự đoán và điều chỉnh; nâng cao chất lượng đối thoại, thương lượng và ký kết thỏa ước lao động tập thể , đảm bảo nội dung Thương lượng về phúc lợi xã hội của người lao động; hoàn thiện và nâng cao hiệu quả mô hình chăm lo lợi ích thực chất của đoàn viên công đoàn; tiếp tục đổi mới hoạt động huy động các nguồn lực xã hội, cộng đồng, nâng cao phúc lợi xã hội thông qua các tổ chức chính trị – xã hội. các tổ chức xã hội, và các tổ chức từ thiện.

Dr. Baturo

Phó Chủ nhiệm Ủy ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội

Tham khảo: Bùng Nổ Dân Số trong Tiếng Anh là gì: Định Nghĩa, Ví Dụ Anh Việt

Sỹ Văn

Chuyên gia về sắc đẹp. Nhiều năm công tác trong ngành makeup và thời trang.

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button